Ở những người nhiễm HIV do hệ miễn dịch suy giảm dẫn đến tình trạng dễ nhiễm nấm candida vùng miệng và hầu họng.  Đây là nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất, chiếm 90% các trường hợp nhiễm HIV. Nguyên nhân phần lớn là do Candida albicans (C.albicans), ngoài ra có thể là các chủng Candida khác C.tropicalis, C. Krusei, C. glabrata. Vì vậy cần được các bác sĩ tư vấn HIV để có phương pháp điều trị hợp lý.

1. Căn nguyên

Phần lớn là do Candida albicans (C.albicans), ngoài ra có thể là các chủng Candida khác C.tropicalis, C. Krusei, C. glabrata. 
2. Biểu hiện lâm sàng
– Viêm miệng hầu: là vị trí hay gặp nhất 
+ Ban đầu có thể không triệu chứng. Người bệnh có cảm giác đau đớn, rát bỏng ở miệng, nhậy cảm khi ăn thức ăn có gia vị  và/hoặc mất vị giác.
+  Sau đó xuất hiện nhiều đốm hoặc đám giả mạc màu trắng, dễ bong với 4 hình thái lâm sàng: giả mạc, trợt đỏ, tăng sản và viêm góc mép.
+  Vị trí: khu trú ở lưỡi, lợi, mặt trong má, vòm họng. Đôi khi các đốm giả mạc lan dần xuống họng, thực quản và/hoặc các nhánh khí phế quản gây nuốt đau hoặc đau sau xương ức. 
–  Đối với nhiễm nấm candida sinh dục, viêm âm hộ âm đạo do Candida:  là biểu hiện thường thấy ở phụ nữ bị nhiễm HIV, có khi là dấu hiệu chỉ điểm của nhiễm HIV, thậm chí còn trước cả viêm miệng hầu. Biểu hiện thường thấy là viêm âm hộ – âm đạo do Candida mạn tính hoặc tái phát. Bệnh nhân ngứa, cảm giác rát bỏng ở âm hộ. Khí hư có màu trắng đục như váng sữa, không hôi, số lượng nhiều bám vào thành âm đạo. Có thể kèm theo đi tiểu khó, đau khi giao hợp. Ở nam giới, nhiễm nấm có thể làm da dương vật, hậu môn và bìu đỏ, trợt và ngứa

3. Chẩn đoán

Nhiễm nấm miệng Cadida
Nhiễm nấm miệng Cadida
– Chẩn đoán xác định:
+ Soi tươi (chủ yếu) trong dung dịch nước muối hoặc KOH 10%: có bào tử nấm men và/giả sợi
+ Nhuộm Gram: 
+ Nuôi cấy định loại nấm 
– Chẩn đoán phân biệt:
+ Viêm niêm mạc miệng hầu: phân biệt với bạch sản lông ở miệng
+ Viêm âm hộ âm đạo: phân biệt với viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do vi khuẩn…

4. Có nhiều dạng tổn thương nhiễm Candida

Nhiễm candida dạng màng giả: Có sự hiện diện của những mảng trắng hay vàng trên một niêm mạc đỏ hay bình thường. Khi cạo, mảng trắng tróc ra để lại một bề mặt ướm máu. Vị trí thường gặp ở khẩu cái, niêm mạc má, môi và lưng lưỡi.

Nhiễm candida dạng tăng sinh: Đặc trưng là những mảng trắng không thể cạo đi được. Vị trí thường là niêm mạc má, ngược với khóe mép là vị trí thường gặp ở những người không bị nhiễm HIV.

Nhiễm candida dạng ban đỏ hay dạng teo: Là những tổn thương màu đỏ sậm nổi bật hay rất kín đáo. Thường gặp ở khẩu cái, lưng lưỡi (làm mất gai lưỡi).

Nhiễm candida dạng chóc mép.

5. Điều trị nhiễm nấm Candida miêng trên bệnh nhân HIV

Có thể điều trị thuốc chống nấm bôi tại chỗ trong đợt viêm họng hầu đầu tiên do candida như clotrimazole viên, nystatin dung dịch hay viên thơm tuy nhiên dùng đường uống có hiệu quả tốt hơn và dung nạp thuốc tốt hơn.

Viêm candida thực quản phải điều trị fluconazole 14-21 ngày. Vì có nhiều vi khuẩn gây bệnh có triệu chứng như viêm do candida nên các bác sĩ tư vấn HIV cho rằng phải soi thực quản để xác định nguyên nhân trước khi điều trị.

Đánh giá thất bại điều trị khi:

Dấu hiệu viêm họng hầu và thực quản tồn tại sau hơn 7-14 ngày sau khi điều trị thích hợp.

Nếu điều trị không hiệu quả bằng fluconazole thì thay thế bằng itraconazole dung dịch và có hiệu quả ít nhất là 1/3 trường hợp

Theo các bác sĩ tư vấn HIV, Không khuyến cáo điều trị dự phòng nhiễm candida ở những bệnh nhân HIV vì điều trị đợt cấp có thể đem lại hiệu quả lâu dài và tỉ lệ tử vong do nhiễm nấm candida thường rất thấp nên phòng tránh là điều quan trọng nhất. Tuy nhiên nếu tái diễn nhiều lần  hoặc biểu hiện nghiêm trọng thì cần điều trị dự phòng.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

>>>Các bài viết khác:Điều trị giang mai trên bệnh nhân HIV

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here