Rating: 9.5

Tổng quan về tình trạng HIV kháng thuốc.

Hiện nay,khi số lượng bệnh nhân được tiếp cận điều trị thuốc ARV tăng lên thì sự xuất hiện và lan truyền kháng thuốc HIV là điều khó tránh khỏi. Việc đánh giá thực trạng và các yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của HIV kháng thuốc là việc làm rất quan trọng.

Khái niệm và phân loại HIV kháng thuốc

Kháng thuốc HIV được xác định khi xuất hiện các đột biến mang tính kháng thuốc điều trị HIV so với chủng HIV nhạy cảm với thuốc trước đây (Chủng HIV hoang dại) ,được phân thành 2 loại cơ bản:

-HIV kháng thuốc lây truyền:

+Xảy ra ở bệnh nhân tiền sử chưa mắc HIV trước đây,nhưng tại thời điểm hiện tại mới mắc HIV lại bị nhiễm bệnh bởi chủng HIV có kháng thuốc. Trường hợp HIV kháng thuốc lây truyền chủ yếu được phát hiện ở những người trong độ tuổi còn trẻ.

+ HIV kháng thuốc lây truyền có thể xuất hiện trong nhiều tháng hoặc nhiều năm , không có áp lực chọn lọc của thuốc ARV (khi bệnh nhân chưa điều trị ARV) . Do HIV kháng thuốc lây truyền có thể chuyển thành dạng hoang dại hoặc ở “dạng ngủ” dưới ngưỡng phát hiện bằng các kỹ thuật định gen kháng thuốc.

-HIV kháng thuốc mắc phải: 

+Xuất hiện trên bệnh nhân đang điều trị HIV bằng ARV có xảy ra các đột biến HIV kháng thuốc.

+Các đột biến này xuất hiện dưới áp lực chọn lọc thuốc HIV kháng thuốc mắc phải.Việc đánh giá tình trạng HIV kháng thuốc mắc phải được tiến hành sau 12 tháng,48 tháng và sau 60 tháng điều trị ARV. Phân loại HIV kháng thuốc mắc phải chia thành 3 loại chính,đó là:

  • Dự phòng HIV kháng thuốc: được xác định khi tải lượng HIV của bệnh nhân đang điều trị ARV phác đồ bậc 1 và đạt được ngưỡng dưới 1000 bản sao/ml
  • Có khả năng có HIV kháng thuốc: gồm các trường hợp sau: 1) bệnh nhân có tải lượng HIV ở trên ngưỡng ức chế (≥1000 bản sao/ml) nhưng không phát hiện được các đột biến HIV kháng thuốc; 2) bệnh nhân đang điều trị ARV bị mất dấu hoặc ngừng điều trị.
  • HIV kháng thuốc: Được định nghĩa khi có ít nhất một đột biến HIV kháng thuốc mà đột biến này gây nên tình trạng HIV kháng với một hoặc nhiều loại thuốc ARV mức độ thấp, mức độ trung bình và mức độ

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng HIV kháng thuốc.

Những yếu tố dưới đây có thể ảnh hưởng đến tình trạng HIV kháng thuốc:

Yếu tố liên quan đến HIV

Khi các chủng HIV kháng thuốc xuất hiện sẽ được nhân lên và tồn tại trong nhân tế bào. Chủng HIV kháng thuốc có thể chuyển thành dạng “ngủ”,không phát hiện được bằng các kỹ thuật định gen nếu quá trình điều trị ARV bị trì trệ,dừng lại hoặc thay đổi phác đồ đột ngột,không theo chỉ định. Trong trường hợp người bệnh đang dừng điều trị ARV rồi đột ngột điều trị trở lại thì HIV kháng thuốc có thể “thức dậy” trở lại.

Yếu tố về thuốc ARV và phác đồ điều trị

Trường hợp dự phòng phơi nhiễm ,nếu điều trị ARV không theo chỉ định chặt chẽ như dùng phác đồ ít hơn 3 loại thuốc, kết hợp điều trị 3 loại không phù hợp đều làm gia tăng nguy cơ thất bại điều trị và xuất hiện tình trạng HIV kháng thuốc. Vì sự tương tác giữa các thuốc không phù hợp sẽ làm gia tăng chọn lọc kháng thuốc của HIV do làm giảm nồng độ thuốc xuống dưới mức tối ưu. Ví dụ, rifampicin làm giảm nồng độ nevirapine từ 20% đến 58% và giảm nồng độ efavirenz tới 26%.

Các trường hợp có tiếp xúc với thuốc ARV trước khi điều trị ARV phác đồ bậc một cũng có khả năng gây HIV kháng thuốc trước điều trị, dẫn tới thất bại virus học nhanh hơn và mắc thêm các đột biến kháng thuốc mới. Ngoài ra nếu bệnh nhân điều trị ngắt quãng,hoặc chỉ dùng vài ngày cũng có thể khiến nồng độ thuốc ARV ở dưới mức tối ưu,gây thất bại điều trị và HIV kháng thuốc.

Sự tuân thủ điều trị của người bệnh

Điều trị kém ,không tuân thủ theo phác đồ chỉ định xuất hiện nhiều ở những trường hợp bệnh nhân trầm cảm, tình trạng nghiện, kém hiểu biết về bệnh và điều trị thuốc ARV, thanh thiếu niên hay người trẻ tuổi,đặc biệt trẻ nhỏ có sự phụ thuộc điều trị vào người chăm sóc, sử dụng loại thuốc có nhiều viên riêng lẻ, uống nhiều lần,khiến cho tình trạng HIV kháng thuốc tăng lên

Yếu tố liên quan đến chương trình điều trị HIV/AIDS

Các cơ sở điều trị HIV/AIDS quá đông hoặc thiếu nhân viên sẽ không có đủ thời gian tư vấn và củng cố kiến thức cho bệnh nhân về việc tuân thủ điều trị HIV,cũng như việc theo dõi bệnh nhân ở các cơ sở điều trị bị lỏng lẻo tăng tình trạng mất dấu, khiến tỉ lệ gián đoạn điều trị cao. 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*
*


*