Rating: 9.5

Biểu hiện da và niêm mạc của nhiễm HIV/AIDS

Biểu hiện da và niêm mạc của nhiễm HIV/AIDS


HIV là căn bệnh thế kỉ lây truyền qua 3 con đường: đường máu (dùng chung bơm kim tiêm, sản phẩm máu của người nhiễm HIV, dịch tiết, dịch viêm của người nhiễm HIV…); đường tình dục không an toàn; đường từ mẹ sang con (bào thai từ tháng thứ 4 trở đi, chu sinh, cho con bú).

Khi vào cơ thể, HIV làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể không còn khả năng bảo vệ trước những bệnh mà bình thường không mắc, hoặc có mắc cũng không nguy hiểm đến tính mạng. Chúng tấn công chủ yếu vào nhóm tế bào TCD4, một số lượng  nhỏ đại thực bào.

Biểu hiện lâm sàng của HIV/AIDS rất đa dạng, tất cả các bộ phận của cơ thể đều có khả năng bị tổn thương do HIV gây ra: tiêu hó, mắt, tim mạch, hô hấp, tiết niệu, khớp, thần kinh, da/niêm mạc. Những biểu hiện da/niêm mạc của quá trình nhiễm HIV/AIDS chỉ thấy ở giai đoạn I và IV.

1.  Ban dát đỏ.

Ban xuất hiện  20% trường hợp ở giai đoạn nhiễm HIV cấp, tổn thương khu trú ở phần trên cơ  thể và tự mất đi sau vài ngày. Toàn thân có thể có các triệu chứng kèm theo như cúm: sốt, nhức đầu.

2. Viêm da da dầu lan toả.

Đây là triệu chứng ngoài da hay gặp nhất ( chiếm 25,6%) số bệnh nhân AIDS .Tổn thương  xuất hiện ở vùng da dầu, mặt, ngực, có tính chất rầm rộ, và viêm tấy nhiều hơn so với viêm da da dầu bình thường, bệnh nhân cảm giác ngứa nhiều, gãi có khi gây  chảy máu, chảy dịch tạo các vảy da, vảy tiết trên  bề mặt tổn thương.

Về căn nguyên của viêm da da dầu này có thể có nấm men Pityrosporum orvale tham gia , vì khi mắc bệnh AIDS có thể giảm  sức đề kháng tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển.

3. Nhiễm nấm Candida albicans ở miệng, họng, thực quản, âm đạo.

Tổn thương điển hình gặp ở niêm mạc miệng, họng, niêm mạc má với triệu chứng điển hình, có các mảng bự trắng dính vào niêm mạc, niêm mạc viêm đỏ chảy dịch, bệnh nhân khó nuốt, nôn, bệnh kéo dài thành từng đợt hàng tháng, hàng năm. Từ tổn thương tại miệng, họng dẫn tới tổn thương nhiễm nấm candida ở thực quản, đường tiêu hoá, hậu môn,âm đạo và tổn thương candida ở các nếp gấp da bẹn, nách… cần chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi và cấy nấm.

4. Các nhiễm nấm lan toả khác. Thường ít gặp hơn như :

  • Nhiễm nấm Penicillium Macneifey gây tổn thương ở da: là các sẩn vẩy ở mặt và cổ.

  • Nhiễm nấm Cryptococcus neoformans gây  tổn thương viêm phổi, viêm màng não rất giống lao, đây là một triệu chứng chỉ điểm có giá trị. Chẩn đoán được nhờ : soi tươi, cấy bệnh phẩm, phát hiện kháng nguyên, mô bệnh học .

  • Nhiễm nấm Histoplasmosis (Histoplasmosis capsulatum).

5. Các  nhiễm trùng da kéo dài lan toả ( tổn thương này gặp 6,4% trong số bệnh nhân AIDS ).

Thường  do các chủng liên cầu gây nên, trên lâm sàng tạo các chốc loét, bọng nước to, loét sâu, lan toả kéo dài trên bệnh nhân suy kiệt.

6. Các nhiễm virus phối hợp.

  • Hepes zoster ( gặp 2,6% số bệnh nhân AIDS ). Tổn thương giống như tổn thương của bệnh zona thông thường nhưng có các đặc điểm :

  • Tổn thương phỏng nước lan toả (zona lạc vị trí) ngoài vị trí tạo thành giải tổn thương, còn có các tổn thương  khác rải rác  ở mặt,  tay, chân và  cả hai bên của  cơ thể.

  • Tổn thương là phỏng to nhỏ, nhiều , thậm chí có khi có phỏng  máu  (bình thường chỉ là phỏng nước trong ).

  • Tổn thương kéo dài vài  ba tháng không khỏi, hết đợt này đến đợt khác ( bình thườngg zona khoảng 15-20 ngày sẽ khỏi để lại sẹo nhỏ trắng tại vùng tổn thương.

  • Herpet lan toả, hoại tử : tổn thương gặp ở môi, miệng, hậu môn, chiếm tỷ lệ 1,3% bệnh nhân AIDS. Tổn thương thường lan toả, kéo dài, thậm chí hoại tử gây đau đớn nhiều.

  • U mềm lây (Molluscum contagiosum) do một loại virus ADN gây nên. Tổn thương là những sẩn hình bán cầu, kích thước  từ 1-2-5 mm đường kính, có lõm ở chính giữa,  gặp rải rác ở lưng, ngực, tay, màu sắc như da bình thường.

  • Sùi mào gà ( condylomata acuminata):Do một loại virus thuộc nhóm Papovavirus gây nên. Tổn thương gặp ở vùng bán niêm mạc sinh dục, là sẩn tăng gai bề  mặt, thường có  cuống, nền da  không bị thâm  nhiễm, ít chảy máu.

7. Bạch sản ở miệng.

Tổn thương xuất hiện ở hai bờ của lưỡi, là các đám bạch sản hơi gồ cao, nổi rõ, trên bề mặt nhăn nhúm và có lông nhỏ. Tổn thương dễ nhầm với nhiễm  nấm Candida albicans.

8. Sarcoma Kaposi da :

Đây là một bệnh ung thư thành mạch, với sự tăng sinh của cách mạch máu, các tế bào nội mạc  kích thước lớn, ác tính, có thể thấy tế bào hình thoi và các hồng cầu bị xuất quản. Tổn thương là các u đường kính 0,5 – 2 cm, không đau, không ngứa, màu  đỏ hồng, đỏ tía nổi thành cục ở trên da , thân, đầu, cổ , tứ chi nhưng không có ở lòng bàn tay chân hoặc vòm họng.

Các u này tiến triển nhanh chóng, lan toả thành đám thâm nhiễm và vỡ ra gây nhiễm khuẩn thứ phát, các hạch lân cận bị viêm lan toả.

9. Hội chứng  vàng móng tay.

Gặp ở giai đoạn cuối của bệnh nhân AIDS với các tổn thương móng tay chuyển màu vàng kèm theo các gợn sóng dọc hoặc ngang ở thân móng, đôi khi có hiện tượng tiêu móng.

10. Hội chứng giả viêm tắc tĩnh mạch đau buốt.

Tổn thương bắp chân sưng đau, tấy đỏ dễ nhầm với viêm tắc tĩnh mạch sâu nhưng chụp tĩnh mạch thì khôn

>>> Bài viết liên quan: 

Triệu chứng và tuổi thọ người nhiễm HIV

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*
*


*