Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu với virus HIV. Vì vậy việc điều trị dự phòng HIV rất quan trọng. Phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể có chứa virus HIV được xem như một cấp cứu nội khoa và cần điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm kịp thời. Nên bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng hai giờ đầu. Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến vấn đề đánh giá nguy cơ và phương pháp điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV.

Điều trị dự phòng HIV
Điều trị dự phòng HIV

1. Nguy cơ HIV phụ thuộc vào các yếu tố

  1. Tác nhân gây bệnh,
  2. Loại phơi nhiễm,
  3. Số lượng máu gây phơi nhiễm,
  4. Số lượng virus trong máu người bệnh vào thời điểm phơi nhiễm.

2. Phương pháp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm

Điều trị dự phòng HIV phụ thuộc vào mức độ nguy cơ của mỗi trường hợp:

Thời gian điều trị dự phòng: 4 tuần liên tiếp.

Phác đồ điều trị dự phòng: có 2 phác đồ.

Phác đồ điều trị cơ bản: đối với phơi nhiễm nguy cơ thấp, trung bình.

Phác đồ điều trị mở rộng: bổ sung một ức chế protease, indinavir hoặc nelfinavir đối với phơi nhiễm HIV có nguy cơ cao hoặc khi nghi ngờ có đề kháng đối với thuốc chống retrovirus.

Phác đồ dự phòng phơi nhiễm cơ bản 2 thuốc:

  • Zidovudine 600mg/ngày (300mg, 2 lần/ngày, hoặc 200mg, 3 lần/ngày, hoặc 100mg mỗi 4 giờ) và lamivudine 150mg, 2 lần/ngày.
  • COMBIVIR hoặc LAMZIDIVIR là dạng phối hợp hai thuốc nói trên, liều dùng 2 viên/ngày
    Phác đồ dự phòng phơi nhiễm mở rộng 3 thuốc.

Phác đồ cơ bản cộng indinavir 800mg mỗi 8 giờ hoặc nelfinavir 750mg, 3 lần/ngày.

Cần hỏi ý kiến bác sỹ chuyên khoa trước khi sử dụng thuốc. Trong quá trình sử dụng cần tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV.

3. Các trường hợp cần sử dụng thuốc chống phơi nhiễm

Điều trị dự phòng HIV
Điều trị dự phòng HIV

Đó là tất cả các trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch của người nhiễm HIV như:

  • Bị kim đâm vào khi làm thủ thuật y tế tiêm truyền hoặc lấy máu làm xét nghiệm.
  • Vết thương do dao mổ hay các dụng cụ sắc nhọn đã dùng cho người nhiễm HIV/AIDS chọc, đâm vào gây chảy máu.
  • Bị tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào.
  • Máu, chất dịch của người có HIV bắn vào các vùng da bị tổn thương, vào niêm mạc (mắt, mũi, họng).
  • Bị người khác dùng kim tiêm đã sử dụng có máu (có chứa virus HIV) đâm vào, hoặc những người trong khi làm nhiệm vụ (công an, bác sỹ…) cấp cứu tai nạn giao thông, bắt tội phạm…
  • Tình dục không an toàn: Quan hệ tình dục với người có HIV mà không sử dụng bao cao su.

Trước khi sử dụng thuốc cần đánh giá các nguy cơ nhiễm HIV:

– Không có nguy cơ lây nhiễm: Nếu máu và dịch tiết của người có HIV bắn vào những vùng da lành (không bị tổn thương hay xây xước)

– Nguy cơ lây nhiễm thấp: Khi tổn thương da xây xát nông, không chảy máu hoặc chảy máu ít hoặc máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương viêm loét.

– Nguy cơ lây nhiễm cao: Tổn thương da sâu, rộng, chảy nhiều máu, máu và chất dịch cơ thể của người có HIV bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét rộng từ trước.

Trong suốt quá trình sử dụng thuốc phơi nhiễm hay điều trị dự phòng HIV phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sỹ và có sự theo dõi chặt chẽ của bác sỹ cũng như người thân.

Bên cạnh đó, nếu xác định mình có nguy cơ lây nhiễm HIV, bạn nên tiến hành xét nghiệm HIV lại sau 2,5 tháng (tương đương với 10 tuần) kể từ thời điểm bị phơi nhiễm, tiếp xúc với hành vi nguy cơ. Nếu kết quả xét nghiệm là âm tính, có thể yên tâm rằng không bị lây nhiễm HIV trong tình huống đó.

Trong thời gian điều trị dự phòng thuốc chống phơi nhiễm HIV và chờ làm xét nghiệm, người bị phơi nhiễm cần thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm cho người khác bằng cách sử dụng thuốc chống phơi nhiễm HIV.

Điều trị dự phòng HIV và chống phơi nhiễm HIV là phương pháp đầu tiên để bảo vệ bạn trước nguy cơ lây nhiễm của căn bệnh này.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here