Tư vấn HIV sớm cho những bệnh nhân HIV nhiễm song hành lao phổi là một việc quan trọng để giảm tối đa tình trạng xấu đi của sức khỏe.  Đối với người bệnh HIV, việc phát hiện và dự phòng lao cần được thực hiện khám, xét nghiệm sớm nhất để có cách điều trị kịp thời.

Bệnh lao là gì?

Lao là một bệnh truyền nhiễm thường gặp ở những người có sức đề kháng kém như người già yếu, suy kiệt, người dùng thuốc ức chế miễn dịch và đặc biệt là những người nhiễm HIV – những người bị nhiễm loại virus tấn công trực tiếp vào hệ miễn dịch. Virus HIV tấn công phá huỷ lympho TCD4 (tế bào miễn dịch) dẫn đến cơ thể suy giảm sức chống lại sự phát triển của vi khuẩn lao làm cho bệnh lao phát triển rất nhanh, rút ngắn thời gian chuyển từ nhiễm lao sang bệnh. Khi xâm nhập cơ thể, vi khuẩn lao có thể theo đường máu và bạch huyết đến cư trú, phát triển và gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể.

Lao ở bệnh nhân HIV
Lao ở bệnh nhân HIV.

Phân loại các thể lao

Lao phổi

Lao phổi là thể lao hay gặp nhất, chiếm tới 80% các trường hợp mắc lao. Đó là những bệnh nhân khi xét nghiệm đờm có vi khuẩn lao là nguồn lây truyền bệnh cho người sống xung quanh. Cũng có người mắc bệnh lao phổi nhưng xét nghiệm đờm không tìm thấy vi khuẩn lao (do số lượng vi khuẩn này trong ổ tổn thương ít) thì khả năng lây bệnh ít hơn rất nhiều.

Lao ngoài phổi

Lao ngoài phổi có thể gặp: lao hạch bạch huyết, lao màng phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao ruột, lao xương khớp, lao hệ sinh dục – tiết niệu. Những người bị bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ truyền bệnh cho người khác.

Các dấu hiệu điển hình thường gặp

Có rất nhiều dấu hiệu để nhận biết bệnh lao phổi, tuy nhiên, không phải ai cũng nắm được để phát hiện bệnh kịp thời. Vì vậy, đại đa số bệnh nhân mắc bệnh lao phổi đều không biết mình mắc bệnh cho đến khi bệnh diễn biến nặng. Vì vậy, bạn cần được tư vấn HIV sớm nhất để nắm rõ những dấu hiệu điển hình thường của lao để mọi người có thể đi khám sớm và được điều trị kịp thời.

– Ho: Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mạn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân như viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi… Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần không phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi mà đã dùng thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

Khạc ra đờm: Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy, nếu sau khi đã dùng thuốc kháng sinh, triệu chứng khạcđờm không giảm thì người bệnh có triệu chứng ho khạc trên 3 tuần phải nghĩ đến do lao phổi. Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân lao phổi.

– Ho ra máu: Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% những người lao phổi, thể hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gâyho ra máu rất nhiều từ các bệnh phổi – phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư phổi, phế quản…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn thân (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…).

Đau ngực, khó thở: Đau ngực là triệu chứng dễ nhận thấy khi ta bị bệnh lao phổi. Ho nhiều sẽ gây ra ức chế lên phế quản, gây ra tình trạng khó thở, đau ngực, nhất là khi phổi đang bị tổn thương thì khả năng trao đổi khí sẽ càng khó khăn hơn.

Gầy, sụt cân: Là triệu chứng thường gặp ở số đông người lao phổi. Những người bệnh gầy, sụt cân không rõ nguyên nhân, không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… nhưng có các triệu chứng hô hấp như đã nêu trên phải nghĩ ngay tới lao phổi.

Dấu hiện nhận biết lao ở bệnh nhân HIV.
Dấu hiện nhận biết lao ở bệnh nhân HIV.

– Sốt: Là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất thường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều. Những người có triệu chứng sốt như trên cùng với các triệu chứng về hô hấp như ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.

– Ra mồ hôi: Là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi, ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi là ra mồ hôi trộm, ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

– Chán ăn, mệt mỏi: Là dấu hiệu rất phổ biến, có thể do tác động tâm lý, tình trạng sức khỏe, căng thẳng, stress gây nên các ức chế khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, thiếu ngủ không muốn ăn uống. Nhiều người bỏ qua dấu hiệu quan trọng này.

Mắc lao không có nghĩa là chấm hết

Tư vấn HIV cho bệnh nhân HIV nhiễm lao
Tư vấn HIV cho bệnh nhân HIV nhiễm lao

Cần phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh lao phổi để có phương hướng và giải pháp điều trị kịp thời. Sự chủ quan, lơ là sẽ rút ngắn con đường dẫn đến nguy hiểm tính mạng. Một khi gặp phải những dấu hiệu trên hoặc nghi ngờ có khả năng mang vi khuẩn lao, mọi người cần đến ngay các cơ sở y tế để làm những xét nghiệm chuẩn xác. Nếu đúng là mắc lao cũng không có nghĩa mọi thứ sẽ chấm hết bởi hiện nay đã có cách trị bệnh dựa theo các phác đồ, đồng thời kết hợp một chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, lành mạnh sẽ sớm trả lại cho chúng ta lá phổi khỏe mạnh.

Mục đích của việc điều trị lao là tiêu diệt hết vi khuẩn lao ở nơi tổn thương để khỏi bệnh và tránh tái phát, hạn chế các biến chứng và tử vong, dập tắt các nguồn lây lan cho cộng đồng. Điều trị lao chủ yếu dùng thuốc. Tiêm vắc-xin phòng lao (BCG) là biện pháp hiệu quả nhất để chủ động phòng tránh bệnh lao cho trẻ. Cần tiêm trong vòng 6 tháng sau sinh và tiêm nhắc lại khi đến 15 tuổi.

Với người bệnh, không được khạc nhổ bừa bãi xuống đất, khi bệnh đang phát triển thì nên ngủ giường riêng, dùng riêng chén đũa, cốc chén và phải rửa bằng nước sôi sau khi dùng. Áo quần, chăn màn hằng tuần phải được ngâm nước sôi sau khi giặt. Khi nói chuyện, có thể đeo khẩu trang hoặc không nhìn đối diện vào mặt người khác. Cần kiên trì điều trị lao đúng thời gian và theo hướng dẫn của thầy thuốc cho đến khi khỏi hẳn.

Dự phòng bằng isoniazid (INH)

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, chỉ định điều trị dự phòng bệnh lao bằng INH cho những trường hợp sau:

Người lớn và trẻ vị thành niên nhiễm HIV và loại trừ mắc lao tiến triển; không phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch kể cả phụ nữ mang thai, người bệnh đang điều trị ARV và người bệnh đã từng được điều trị lao trước đây.

Đối với trẻ em, trẻ trên 12 tháng tuổi nhiễm HIV: không có bằng chứng mắc lao tiến triển dựa vào sàng lọc lâm sàng và không tiếp xúc với người bệnh lao. Trẻ dưới 12 tháng tuổi nhiễm HIV: chỉ những trẻ có tiếp xúc với người bệnh lao và được loại trừ đang mắc lao tiến triển.

Không được dùng INH để dự phòng lao cho người bệnh có tiền sử dị ứng với INH (người bệnh đã từng bị sốt, phát ban hoặc viêm gan do điều trị bằng INH trước đây)

Đối với những trường hợp viêm gan tiến triển, xơ gan, nghiện rượu nặng (người bệnh có các triệu chứng lâm sàng của viêm gan như mệt mỏi, biếng ăn, nước tiểu sẫm màu, đau bụng, nôn, buồn nôn, vàng da… và/ hoặc có tăng men gan như ALT lớn hơn 5 lần chỉ số bình thường thì trì hoãn việc điều trị dự phòng lao bằng INH cho đến khi men gan trở về bình thường hoặc nhỏ hơn 5 lần giới hạn bình thường. Trong trường hợp người bệnh có rối loạn thần kinh ngoại biên (cảm giác kim châm, tê bì, yếu chi hoặc có cảm giác đau bỏng rát ở các chi), trì hoãn việc điều trị dự phòng INH cho đến khi người bệnh được điều trị ổn định.

Cách dùng thuốc: uống 1 lần/ngày vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn, tốt nhất là uống lúc đói. Thời gian điều trị, đối với người lớn là 9 tháng, trẻ em là 6 tháng.

Các tác dụng không mong muốn thường gặp khi dùng thuốc này như viêm dây thần kinh ngoại biên (khắc phục bổ sung vitamin B6 lên 100mg/ngày. Ngừng INH nếu các triệu chứng của viêm dây thần kinh ngoại biên không thuyên giảm hoặc nặng hơn), có thể bị rối loạn chức năng gan, biểu hiện vàng da, tăng men gan (cần phân biệt với tăng men gan do các nguyên nhân khác), người bệnh có thể bị nổi mẩn, buồn nôn, nôn, vàng da thì dừng uống thuốc tạm thời đến khi các triệu chứng thuyên giảm hoặc ổn định thì điều trị tiếp tục.

Người bệnh và người chăm sóc cần được tư vấn về những tác dụng không mong muốn này và theo dõi các tác dụng phụ trong tất cả các lần tái khám.

Đối với những trường hợp được điều trị đồng thời INH với thuốc kháng HIV nevirapine (NVP) cần theo dõi chặt chẽ về sự tăng nguy cơ viêm dây thần kinh ngoại vi và ngộ độc gan. Cần ngừng thuốc khi xuất hiện các triệu chứng ở mức độ nặng.

Nếu người nhiễm HIV không mắc lao thực hiện điều trị dự phòng mắc lao bằng thuốc INH, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác (nếu có) hoặc đến các trung tâm tư vấn HIV để được tư vấn rõ nhất về bệnh.

Mọi thắc mắc bạn có thể gọi điện trực tiếp đến tổng đài 19006191 để được tư vấn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here