Lưu ý khi điều trị HIV bằng ARV

0
17

ARV là thuốc điều trị dùng cho những người bị HIV, có tác dụng làm giảm sự phát triển của virut HIV và làm chậm giai đoạn hiv sang AIDS. Điều trị HIV bằng ARV được nhìn nhận là một trong những biện pháp tích cực giúp người có HIV cải thiện sức khỏe và kéo dài thời gian sống của mình.

Điều trị HIV bằng ARV
                                     Điều trị HIV bằng ARV

ARV là viết tắt Antiretrovaral là một loại thuốc được chế ra nhằm làm giảm sự sinh sôi nẩy nở của virus HIV trong cơ thể. Nếu điều trị ARV hiệu quả thì có thể làm chậm sự phát triển hoàn toàn của AIDS trong nhiều năm, làm giảm nguy cơ lây truyền và làm tăng chất lượng sống của người nhiễm HIV/AIDS. Thuốc ARV được khuyến khích sử dụng kết hợp để ngăn chặn hình thành kháng thuốc.

1.Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV

Dựa vào giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4:

Đối với Người lớn và trẻ ≥ 5 tuổi: CD4 ≤ 500 tế bào/mm3

Điều trị không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 trong trường hơp: :

  • Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm mắc bệnh lao;
  • Đồng nhiễm vi rút viêm gan  B, C;
  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV;
  • Người nhiễm HIV có vợ/chồng hoặc bạn tình không bị nhiễm HIV;
  • Người nhiễm HIV thuộc các quần thể nguy cơ bao gồm: người tiêm chích ma túy, người bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới;
  • Người nhiễm HIV ≥ 50 tuổi;
  • Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

Đối với trẻ < 5 tuổi:       

  • Điều trị ARV cho tất cả các trẻ em nhiễm HIV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4
  • Điều trị ARV đối với trẻ < 18 tháng tuổi có xét nghiệm PCR dương tính hoặc kháng thể kháng HIV dương tính và có biểu hiện sau: nấm miệng, viêm phổi nặng, nhiễm trùng nặng hoặc bất kỳ giai đoạn bệnh lý nào của giai đoạn AIDS.

2. Tác dụng ARV trong điều trị HIV 

  • Ức chế sự nhân lên của virut HIV và kìm hãm lượng virut trong máu ở mức độ thấp nhất. thuốc ARV không chữa khỏi hoàn toàn bệnh HIV.
  • Phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc và tử vong do các bệnh nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân nhiễm HIV.
  • Cải thiện chất lượng sống và tăng thời gian sống cho người bệnh
  • Ngăn cản sự tiến triển HIV sang AIDS ở bệnh nhân nhiễm HIV

3. Nguyên tắc sử dụng ARV trong điều trị HIV

  • Người nhiễm HIV cần được điều trị ARV sớm nhất có thể, để có hiệu quả cao nhất trong việc phục hồi miễn dịch và giảm lây truyền HIV trong cộng đồng.
  • Điều trị HIV bằng ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS.
  • Điều trị HIV bằng ARV chủ yếu điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng hoặc xét nghiệm và người bệnh đã sẵn sàng điều trị.
  • Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc để bảo đảm hiệu lực ức chế virus và giảm nguy cơ kháng thuốc. Điều trị ARV là điều trị suốt đời, người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyết đối để đảm bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc.
  • Người nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm virut cho người khác.
  • Người nhiễm HIV được điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
  • Tùy thuộc vào sự sẵn có của thuốc, tình trạng của người bệnh, các nhà chuyên môn sẽ lựa chọn các phác đồ điều trị tương thích theo công thức.

4. Những lưu ý khi dùng thuốc 

  • Khi điều trị HIV bằng ARV, người bệnh cần dùng đúng liều, đúng giờ và đều đặn hàng ngày.
  • Nếu các thuốc uống 2 lần/ngày thì phải uống cách nhau 12 giờ.
  • Khi phát hiện ra quên uống thuốc, người bệnh phải uống ngay liều thuốc vừa quên. Tiếp theo tính thời gian uống liều kế tiếp theo lịch như thường lệ:
  • Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn trên 4 tiếng, uống liều đó vào đúng thời gian theo lịch như bình thường.
  • Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn dưới 4 tiếng, thì phải đợi trên 4 tiếng mới được uống.
  • Nếu quên hơn 2 liều trong một tuần, người bệnh phải báo cho bác sĩ điều trị để được hướng dẫn.
Điều trị HIV bằng ARV
                                                      Điều trị HIV bằng ARV

5. Các dấu hiệu chứng tỏ người bệnh có đáp ứng với điều trị ARV

  • Sức khỏe cải thiện : Tăng cân, thèm ăn trở lại và ăn ngon miệng hơn, thể trạng, tâm lý tốt hơn, người bệnh có nhiều sức hơn để thực hiện các hoạt động hàng ngày.
  • Các triệu chứng liên quan đến bệnh HIV được cải thiện.
  • Các bệnh nhiễm trùng cơ hội có từ trước được cải thiện, giảm tần suất mắc và mức độ nặng của các nhiễm trùng cơ hội.

6. Theo dõi điều trị 

  • Điều trị HIV bằng ARV là phải luôn tuân thủ việc dùng thuốc đúng và đủ liều theo chỉ định của bác sĩ. Điều này rất quan trọng vì nó quyết định sự thành công của việc điều trị, đồng thời giúp ngăn chặn tình trạng kháng thuốc. Khi bỏ lỡ dù chỉ một hoặc hai liều thuốc, virus có thể trở nên kháng thuốc và rất khó điều trị.
  • Đánh giá lại về sự tuân thủ điều trị trong tất cả các lần tái khám.
  • Kiểm tra lại cách dùng thuốc, cách xử trí khi quên uống thuốc.

Mỗi lần tái khám, người bệnh cần được đánh giá tiến triển lâm sàng, phát hiện và xử trí các tác dụng phụ hoặc các nhiễm trùng cơ hội mới, cụ thể:

  • Đánh giá lại giai đoạn lâm sàng. Ngừng điều trị ARV, điều trị hỗ trợ và theo dõi xét nghiệm.
  • Đánh giá khả năng mang thai để thay thuốc ARV khi cần (không dùng efavirenz cho phụ nữ có thai trong 12 tuần đầu của thai kỳ)
  • Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc:

+ Độc với thần kinh trung ương: EFV biểu hiện lẫn lộn, rối loạn tâm thần, trầm cảm. Cần dừng và thay thế thuốc.

+ Bệnh lý thần kinh ngoại vi: Biểu hiện rối loạn cảm giác ngoại vi, chủ yếu đầu chi, đi lại khó khăn. Cần dùng vitamin B liều cao, nếu nặng phải thay thế thuốc.

+ Viêm tụy: Gặp khi dùng ddI, d4T. Cần dừng ngay thuốc và thay bằng ZDV.

+ Phân bố lại mỡ: Khi dùng ddI, thuốc ức chế proteases. Biểu hiện tăng tích tụ mỡ ở ngực, bụng, lưng, gáy; teo mô mỡ ở cánh tay, cẳng chân, mông, má.

+ Độc cho gan: NPV, EFV, ZDV và thuốc ức chế proteases rất độc với gan, gây hủy hoại tế bào gan, tăng men gan. Cần ngừng thuốc nếu có tăng men gan gấp 5 lần bình thường.

7. Hướng dẫn khi người bệnh quên uống thuốc 

  • Khi phát hiện ra quên uống thuốc theo lịch, người bệnh phải uống ngay liều thuốc vừa quên. Tiếp theo tính thời gian uống liều kế tiếp theo lịch như thường lệ:
  • Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn trên 4 tiếng, uống liều đó vào đúng thời gian theo lịch như bình thường.
  • Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn dưới 4 tiếng, KHÔNG ĐƯỢC uống liều kế tiếp theo lịch cũ mà phải đợi trên 4 tiếng mới được uống.
  • Nếu quên hơn 2 liều trong một tuần, người bệnh phải báo cho bác sĩ điều trị để được hướng dẫn.

8. Tương tác thuốc 

  • Thức ăn có thể ảnh hưởng đến hấp thu, chuyển hóa, phân bố và đào thải thuốc và sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị. Thức ăn nhiều chất béo có thể làm tăng nồng độ của thuốc efavirenz trong máu hay làm giảm tác dụng của indinavir. Việc uống rượu, bia có thể làm tăng nồng độ abacavir trong máu lên đến 41%.
  • Một số ARV gây rối loạn chuyển hóa mỡ làm tăng triglycerides và cholesterol, rối loạn phân bố mỡ và kháng insulin (có thể gây đái tháo đường)
  • Thuốc ARV có nhiều tương tác với các thuốc khác thông qua enzyme chuyển hóa tại gan như efavirenz và nevirapin, do đó khi sử dụng nên chú ý và sử dụng cách xa nhau để hạn chế tương tác.

9. Một số tác dụng phụ khi điều trị HIV bằng ARV

  • Buồn nôn: hay gặp khi dùng các thuốc: zidovudin (ZDV), stavudin (d4T); didanosin (ddI); abacavir (ABC); tenofovir (TDF); indinavir (IDV); saquinavir (SQV); lopinavir (LPV); ritonavir (RTV). Để hạn chế tác dụng phụ này, có thể cho uống thuốc trong bữa ăn. Tuy nhiên, IDV và ddI không nên dùng trong bữa ăn vì ảnh hưởng tới hấp thu và chuyển hóa thuốc.
  • Tiêu chảy: thường gặp khi dùng các thuốc: TDF, SQV, LPV, RTV. Khi bị tiêu chảy cần bù nước điện giải đầy đủ bằng đường uống (oresol) hoặc đường truyền nếu nặng. Có thể phải dùng các thuốc chống tiêu chảy để hạn chế tiêu chảy tạm thời.
  • Đau đầu: có thể gặp khi trong phác đồ điều trị có các loại thuốc như: ZDV, lamivudin (3TC), IDV, SQV, LPV. Có thể dùng thuốc giảm đau thông thường như paracetamol để giảm bớt đau đầu cho người bệnh.
  • Đau bụng, khó chịu ở bụng: thường gặp khi dùng các loại thuốc sau: ddI, ABC, SQV cần theo dõi kỹ, nếu đau liên tục cần tới cơ sở y tế nơi cấp thuốc để được hướng dẫn thêm, thậm chí phải thay thế thuốc khác hoặc đổi phác đồ.
  • Nổi ban đỏ, ngứa: các loại thuốc như ddI, 3TC, ABC, EFV, NVP, LPV có thể gây dị ứng. Nhẹ thì có biểu hiện ban đỏ rải rác, ngứa… hết khi điều trị bằng kháng histamin; nhưng cũng có thể bị dị ứng nặng như hội chứng Stevens Johnson, Lyell có thể đe dọa tính mạng (có thể gặp khi dùng các thuốc: EFV, NVP). Khi bị dị ứng thuốc nặng cần ngừng thuốc ngay và điều trị tích cực tại các trung tâm y tế có đủ điều kiện.
  • Rối loạn giấc ngủ, ác mộng: hay gặp biểu hiện này khi dùng các thuốc sau: EFV, 3TC. Nên dùng vào buổi tối, trước khi đi ngủ. Các triệu chứng này thường không kéo dài. Có thể dùng các loại thuốc an thần, thuốc hỗ trợ để ngủ tốt hơn.

10. Thời gian điều trị HIV bằng ARV.

Một khi đã bắt đầu điều trị HIV bằng ARV, sẽ phải dùng những thuốc này đến suốt đời. Việc dùng thuốc nhằm để giữ cho hệ thống miễn dịch khỏe mạnh và ngăn ngừa bị nhiễm trùng.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

*