Điều trị HIV bằng thuốc ARV là vô cùng cần thiết cho phụ nữ mang thai bởi HIV không chỉ gây nguy hiểm ở những người nhiễm,mang virus HIV thông thường mà nó còn đặc biệt nguy hiểm khi người nhiễm là phụ nữ mang thai vì có khả năng còn lây nhiễm cho đứa trẻ trong bụng.Vì vậy, phụ nữ mang thai xác định bị nhiễm HIV,thay vì chỉ điều trị dự phòng lây từ mẹ sang con nay sẽ được điều trị ARV ngay khi phát hiện có thai.

Chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu loại trừ trẻ nhiễm HIV từ mẹ nếu phụ nữ nhiễm HIV nhận được các can thiệp phù hợp và kịp thời. Như vậy phụ nữ nhiễm HIV và phụ nữ mang thai nhiễm HIV cần phải biết tình trạng nhiễm HIV của mình bằng cách tiếp cận sớm với tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện để được điều trị HIV kịp thời và con của họ được điều trị HIV bằng thuốc ARV và nuôi dưỡng phù hợp.

Điều trị HIV cho phụ nữ có thai
Điều trị HIV cho phụ nữ có thai

1. Nguyên tắc điều trị HIV cho phụ nữ mang thai 

Tùy thuộc vào thời điểm xác định HIV dương tính vào giai đoạn mấy của thai kỳ mà các bác sỹ sẽ có các chỉ định dự phòng phù hợp.

– Đối với phụ nữ mang thai khẳng định nhiễm HIV, khuyến cáo bắt đầu điều trị khi lượng tế bào CD4 xuống dưới ngưỡng 350/1ml máu không phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân.

– Thời điểm bắt đầu điều trị HIV bằng ARV ở phụ nữ mang thai không cần phụ thuộc vào tuổi thai, cần điều trị liên tục trong suốt quá trình mang thai, khi sinh và sau sinh, có nghĩa càng sớm càng tốt, sau khi bệnh nhân đủ tiêu chuẩn điều trị.  Việc điều trị cần tuân thủ tuyệt đối theo y lệnh của bác sĩ.

2. Phác đồ, liều lượng và các thuốc điều trị HIV bằng ARV cho phụ nữ mang thai 

a) Phác đồ 1: Zidovudine (AZT) + lamivudine (3TC) + nevirapine (NVP)

  • AZT  300 mg 2 lần/ngày
  • 3TC  150 mg 2 lần/ngày
  • NVP 200mg 1lần/ngày trong 2 tuần đầu sau đó tăng lên 2 lần/ngày

Uống cách nhau 12 giờ, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no. Xét nghiệm Hgb, ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần Không bắt đầu điều trị phác đồ có AZT khi Hgb < 80 g/l; Thận trọng khi sử dụng NVP khi ATL > 2,5 lần bình thường, điều trị lao phác đồ có rifampicin và phụ nữ có CD4 >250/mm3.

b) Phác đồ 2: Zidovudine (AZT) + lamivudine (3TC) + efavirenz (EFV)

  • AZT  300 mg 2 lần/ngày
  • 3TC 150 mg 2 lần/ngày
  • EFV 600 mg 1 lần/ngày

AZT + 3TC uống buổi sáng , Uống  AZT + 3TC  cách nhau 12giờ AZT + 3TC + EFV 600 mg vào buổi tối Tránh dùng EFV vào bữa ăn nhiều chất béo. Xét nghiệm Hb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần Không bắt đầu điều trị khi Hgb < 80 g/l và hoặc phụ nữ có thai 3 tháng đầu. Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử).

c) Phác đồ 3 : Tenofovir (TDF) + lamivudine (3TC) + efavirenz (EFV)

Khi không có viên phối hợp

  • TDF 300 mg 1 lần/ngày
  • 3TC 150 mg 2 lần/ngày cách nhau 12 giờ hoặc 300mg 1lần/ngày
  • EFV liều 600mg 1lần/ngày

Khi  có viên kết hợp: TDF + 3TC + EFV uống 1 lần/ngày Xét nghiệm Creatine trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần Không bắt đầu điều trị phác đồ có TDF khi có suy thận (Độ thanh  thải creatinin <50 ml/phút); Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử), phụ nữ mang thai 3 tháng đầu

  • Liều lượng và cách sử dụng abacavir (ABC), Lopinavir/Ritonavir (LPV/r):

ABC: 300mg uống 2 lần/ngày, cách nhau 12 tiếng hoặc 600mg uống 1 lần/ngày

LPV/r: 400mg/100mg uống 2 lần/ngày, cách nhau 12 giờ

LPV/r viên nang nên uống khi no;LPV/r viên nén có thể uống lúc đói hoặc lúc no

  • Trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV đã được điều trị HIV, cần sử dụng NPV hàng ngày cho đến khi được 6 tuần tuổi (đối với trẻ bú mẹ). Sử dụng AZT hoặc NVP (đối với trẻ không bú mẹ).
  • Phụ nữ mang thai nhiễm HIV chưa có chỉ định điều trị ARV, cần được dự phòng hiệu quả bằng ARV để ngăn chặn sự lây truyền HIV cho trẻ sơ sinh, ngay ở tuần thai thứ 14, hoặc càng sớm càng tốt khi bà mẹ đến khám ở giai đoạn muộn của thai kỳ, trong lúc chuyển dạ hoặc trong khi sinh.- Trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV đã được điều trị HIV, cần sử dụng NPV hàng ngày cho đến khi được 6 tuần tuổi (đối với trẻ bú mẹ). Sử dụng AZT hoặc NVP (đối với trẻ không bú mẹ).

3. Tác dụng phụ của ARV

Một số tác dụng của thuốc điều trị HIV rất giống những thay đổi có thể xảy ra trong thời kỳ có thai, ví dụ như buồn nôn và ốm nghén, và nôn do ARV. Do vậy lại càng khó để khẳng định nguyên nhân của các triệu chứng này là ARV hay do thai nghén.

Thiếu máu : Có thể gây ra trạng thái mệt mỏi. Đây là tác dụng phụ rất phổ biến của cả AZT và thai nghén. Xét nghiệm máu đơn giản có thể xác định được điều này. Nếu bị thiếu máu có thể uống bổ sung viên sắt.

Tiểu đường: Khi mang thai, người phụ nữ có nguy cơ bị tiểu đường cao hơn. Phụ nữ đang dùng thuốc ức chế protease khi mang thai có nguy cơ bị biến chứng phổ biến này hơn. Lượng glucose phải được theo dõi chặt chẽ và sàng lọc tiểu đường khi có thai.

Nhiễm acid lactic: Thai nghén có thể là một yếu tố nguy cơ khác nữa của việc tăng lượng acid lactic. Thông thường gan điều chỉnh được lượng acid này. Nhiễm acid lactic tuy hiếm gặp nhưng là một tác dụng phụ gây tử vong tiềm ẩn của chất đồng đẳng nucleosid. Sử dụng đồng thời d4T và ddl khi có thai đặc biệt có nguy cơ cao. Sự phối hợp này không được khuyến cáo trong thai kỳ.

Phụ nữ mang thai cần điều trị HIV sớm ngay từ khi phát hiện. Nếu được uống thuốc theo phác đồ điều trị sớm, có thể bảo đảm hiệu quả tối ưu trong việc giảm tỉ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here