Bội nhiễm Herpes simplex virus (HSV)

0
88

Bệnh Herpes do virut Herpes (Herpes Simplex Virus – HSV) hiện nay đã trở thành một bệnh ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe cộng đồng. Nhiều người thường nghĩ, Herpes chỉ lây nhiễm qua đường tình dục, nhưng thực tế, virut Herpes còn gây bệnh cả quanh miệng, môi, ngón tay và một số nơi khác.

Bội nhiễm Herpes simplex virus(HSV)
Bội nhiễm Herpes simplex virus(HSV)

          Nhiễm Herpes rất hay gặp ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Khoảng 90% bệnh nhân Hiv có huyết thanh dương tính với Herpes simplex 1 hay 2 và điều trị ARV không ảnh hưởng đến tỉ lệ này.

Có 2 loại HSV (có tài liệu viết là HHV: Human Herpes Virus):

  • Herpes simplex loại 1 (HSV-1) : Gây bệnh ở da, niêm mạc phần trên của cơ thể như mắt, mũi, miệng và nhiễm trùng thần kinh trung ương. Lây truyền bằng tiếp xúc trực tiếp với virus qua thương tổn của chúng hoặc qua nước bọt.
  • Herpes simplex loại 2 (HSV-2) : Gây bệnh ở da niêm mạc bộ phận sinh dục. Bệnh lây truyền qua đường tình dục. Sự phân loại này không hoàn toàn tuyệt đối vì người ta có thể phân lập thấy HSV-1 ở những thương tổn tại bộ phận sinh dục và HSV-2 cũng được phân lập từ những thương tổn ở môi, miệng.

I. Nguyên nhân gây bệnh 

  • Tổn thương ở môi (khô, nứt môi, chấn thương…).
  • Chấn thương răng-miệng (nhổ, trám răng…).
  • Sốt, cảm cúm, các bệnh nhiễm trùng (như viêm đường hô hấp trên…).
  • Kinh nguyệt, có thai.
  • Suy nhược cơ thể, căng thẳng tinh thần, chấn thương thể chất.
  • Giảm sức đề kháng, giảm miễn dịch (AIDS, ung thư…).

II. Biểu hiện lâm sàng

  • Phổ biến nhất là tổn thương ở vùng miệng. Đầu tiên có cảm giác đau rát ở vùng sẽ có tổn thương, sau đó xuất hiện thương tổn kiểu dát sần rồi mụn nước, loét và đóng vảy trên môi rất nhanh. Thương tổn thường chỉ là loét trên mặt niêm mạc. Không điều trị thương tổn có thể kéo dài 7-10 ngày. Nguyên nhân thường do ánh nắng mặt trời hoặc stress. Thương tổn tái phát 1-2 lần trong năm.
  •  Tổn thương đường sinh dục: Nguyên nhân thường do HSV2. Biểu hiện bằng loét trên niêm mạc âm đạo hay niệu đạo. Kèm triệu chứng đái khó, tăng chất nhầy âm đạo, niệu đạo; hạch bẹn sưng, nhất là sơ nhiễm vùng đáy chậu. Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng ( TCD4 < 100) có thể có loét rộng, sâu, không khỏi ở vùng đáy chậu và mông.
  •  Đặc biệt, HSV gây viêm giác mạc, sơ sinh, viêm não, chín mé có biểu hiện lâm sàng như người Hiv (-) nhưng trên người Hiv (+) nặng nề và rầm rộ hơn. 

III. Các biến chứng của bệnh Herpes

  • Viêm nướu răng – miệng cấp tính, thường xảy ra ở trẻ em từ 1-5 tuổi.
  • Nhiễm herpes dạng chàm: Thường gặp ở những bệnh nhân đã có các bệnh ngoài da trước đó như: Viêm da thể tạng, bệnh darier, pemphigus, viêm da mãn tính.
  • Phát ban dạng thủy đậu: Là dạng nhiễm virus herpes ngoài da nhưng lan rộng và có dạng chốc lở. Khởi phát đột ngột các triệu chứng: Sốt, ớn lạnh, khó chịu và những chùm mụn nước xuất hiện ở những vùng da bất thường. Các sang thương hình thành trong 7-10 ngày, lan rộng và kết nối nhau thành những mảng loét trượt rộng hơn. Sau đó bị bội nhiễm vi trùng Staphylococcus hay Streptococcus.
  • Viêm giác mạc – kết mạc mắt: Với các triệu chứng: Đau, xốn, chảy nước mắt và nhạy cảm với ánh sáng. Nếu không sớm điều trị, có thể dẫn đến mù lòa vì gây ra những vết loét ở giác mạc, kết mạc. Cần phải khám ngay với bác sĩ nhãn khoa nếu nghi ngờ nhiễm herpes ở mắt.
  • Viêm não – màng não dạng herpes cấp tính: Là biến chứng thường gây tử vong nếu không điều trị kịp thời.
  • Nhiễm herpes qua đường tiêm chích: Là 1 nguy cơ nghề nghiệp của các bác sĩ, nha sĩ, y tá khi tiếp xúc với các bệnh nhân bị nhiễm herpes. Biểu hiện là các triệu chứng nhiễm virus herpes ở ngón tay. Cần lưu ý phân biệt với những chẩn đoán nhiễm trùng quanh móng (chín mé) ở những đối tượng này.
  • Hồng ban đa dạng: Là tình trạng phát ban đối xứng, thường ở tay, chân và sang thương xuất hiện ở nhiều dạng (dát, sẩn, mảng…) chứ không chỉ mụn nước. Bệnh có thể tái phát thành từng đợt và kéo dài trong 2-3 tuần.

IV. Điều trị bệnh Herpes

  • Toàn thân: acyclovir; valaciclovir; famciclovir; mangoherpin; mediplex; isopresinosine. Mangoherpin là một sản phẩm có nguồn gốc thảo mộc, thuốc có hiệu quả điều trị, ít tai biến, lại rẻ tiền.
  • Tại chỗ: acyclovir; poscarrnet; mangoherpin.

Hiện có 3 loại thuốc được chấp nhận dùng điều trị nhiễm Herpes là: aciclovir, valaciclovir và famciclovir. Tùy giai đoạn bệnh mà liều lượng và số ngày dùng thuốc sẽ khác nhau.
Ngoài ra, thuốc bôi acyclovir dạng ống 5g có hoạt tính chống HSV gây bệnh ở người. Cần bôi thuốc càng sớm càng tốt khi bắt đầu có các triệu chứng báo hiệu hoặc khi xuất hiện các thương tổn đầu tiên. Cách bôi: bôi 5 lần ngày, cách 4-5 giờ bôi 1 lần. Thời gian bôi 5 ngày hoặc lâu hơn đến 10 ngày. Không bôi thuốc vào niêm mạc mắt.

V. Phòng ngừa lây nhiễm

Herpes rất dễ lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp khi vẫn còn các sang thương, vì vậy cần lưu ý những điều sau:

  •  Không chạm vùng có sang thương của mình vào người khác, như: hôn hít, sờ, chạm.
  • Không dùng chung đồ dùng cá nhân như bàn chải đánh răng, khăn tắm, khăn lau mặt, ly uống nước, chén-đũa-muỗng, son môi, phấn trang điểm và “khăn ướp lạnh”…
  • Rửa tay sau khi thoa thuốc.
  • Không sờ lên mắt. Không dùng nước miếng để làm ướt kính sát tròng.
  • Cẩn thận khi trang điểm và tẩy trang. Không nên cố gắng dùng cream hay phấn trang điểm để che đi những mụn rộp hay vết lở vì sẽ dễ bị bội nhiễm vi trùng.
  • Vết lở sẽ không còn gây lây nhiễm khi đã lành hoàn toàn và vùng da bị ảnh hưởng đã trở về bình thuờng.

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán Herpes sơ phát cần được cho thuốc uống càng sớm càng tốt và tư vấn về nguy cơ tái phát, cách làm giảm tái phát. Mục đích của trị liệu thuốc chống virus để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng, đề phòng các di chứng và HSV tái hoạt tính. Thầy thuốc không chỉ điều trị triệu chứng bệnh mà còn quan tâm đến những ảnh hưởng tâm lý.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, vui lòng gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV trực tiếp từ các chuyên gia.

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

*