Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Bệnh lao cũng là triệu chứng của giai đoạn 3 (giai đoạn triệu chứng tiến triển) ở người nhiễm HIV…

1.Bệnh lao phổi là gì ?

Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85%) và là nguồn lây chính cho người xung quanh. Bệnh lao cũng là chỉ điểm của giai đoạn lâm sàng 3 (giai đoạn triệu chứng tiến triển) ở người nhiễm HIV.

Hầu hết tất cả các trường hợp nhiễm bệnh là do hít phải các giọt nhỏ bị nhiễm vi khuẩn bắn ra khi bệnh nhân có lao phổi ho. Bình thường, chỉ 5-10% số người nhiễm vi khuẩn tiến triển bệnh, nhưng nguy cơ nhiễm mới hoặc lao tiềm tàng sẽ tăng lên khi hệ thống miễn dịch bị tổn thương .

Tuy nhiên, hiện tại các quốc gia đang chịu gánh nặng của HIV cũng đồng thời phải đối đầu với sự gia tăng số bệnh nhân đồng nhiễm lao-HIV.

2.Đường truyền

Tuberculosis lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các giọt nhỏ (< 5-10 mm) bắn ra khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện có chứa vi khuẩn lao được sinh ra trong quá trình ho, khạc, hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao phổi trong giai đoạn tiến triển. Một người bệnh nhân lao có AFB dương tính có thể gây nhiễm cho 20 người khác [8]. Nguy cơ tiến triển lao ở bệnh nhân có HIV được ước tính cao hơn từ 20-37 làn so với bệnh nhân không nhiễm HIV.

3.Triệu chứng 

Mặc dù bệnh nhân đang  điều trị HIV  bị lao phổi có thể có các triệu chứng điển hình của lao (như ho khạc đờm, đau ngực, khó thở, ho máu, sốt, vã mồ hôi ban đêm và/hoặc sụt cân), nhưng nhiều bệnh nhân lại có rất ít triệu chứng hoặc có các triệu chứng không điển hình như mô tả ở trên.

Ngoài ra, nhiều bệnh nhân đồng nhiễm lao-HIV, đặc biệt là bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển và có CD4 thấp thường có tổn thương trên x quang ngực không điển hình. Ví dụ, bệnh nhân lao-HIV ít có tổn thương hang hơn bệnh nhân lao không nhiễm HIV và có tới 22% số bệnh nhân HIV có lao phổi nhưng  x quang ngực bình thường. Tỉ lệ tổn thương dạng hang ít có thể làm giảm xác suất AFB (+) trong mẫu đờm của bệnh nhân HIV.

Những bệnh nhân đang điều trị HIV cần được sàng lọc lao dựa trên các triệu chứng ở tất cả các lần đến khám. Nghi ngờ mắc lao khi có 1 trong các dấu hiệu sau :

  • Hiện tại có ho kéo dài
  • Sốt kéo dài
  • Sút cân
  • Ra mồ hôi đêm
  • Hạch toàn thân
Bệnh nhân có biểu hiện ho kéo dài.
Bệnh nhân có biểu hiện ho kéo dài.

Người nghi lao cần được khám lâm sàng, chụp X-quang phổi và xét nghiệm đờm tìm AFB để chẩn đoán lao phổi và lao ngoài phổi.

Theo một nghiên cứu tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh, sau khi sàng lọc 4 triệu chứng của lao phổi, việc phối hợp thêm với x quang ngực hoặc CD4 < 200 tế bào/mm3 hoặc soi đờm tìm AFB có thể giúp đưa ra chẩn đoán với độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 59%

4.Chẩn đoán lao phổi ở bệnh nhân đang điều trị HIV

  • Chẩn đoán lao phổi AFB (+): Người nhiễm HIV có ít nhất 1 tiêu bản xét nghiệm đờm AFB (+) được coi là lao phổi AFB (+) và cần được đăng kí và điều trị càng sớm càng tốt.
  • Chẩn đoán lao phổi AFB (-): ≥ 2 tiêu bản đờm AFB (-), hình ảnh X-quang phổi nghi lao tiến triển và bác sỹ chuyên khoa quyết định.

5.Cách điều trị lao

Điều trị lao cho người bệnh HIV/AIDS không khác biệt so với người bệnh không nhiễm HIV/AIDS. Khi điều trị cần lưu ý một số điểm sau:

– Tiến hành điều trị lao sớm ở người đang điều trị  HIV có chẩn đoán lao.

– Phối hợp điều trị thuốc chống lao với điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội khác bằng Cotrimoxazol và ARV (theo hướng dẫn hiện hành).

– Thận trọng khi điều trị phối hợp ARV vì có hiện tượng tương tác thuốc giữa rifampicin với các thuốc ức chế men sao chép ngược non-nucleocide (NVP) và các thuốc ức chế men Protease (LPV/r).

Chỉ định và phác đồ điều trị lao cho người lớn

Phác đồ I: 2S (E)HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH (chỉ áp dụng khi thực hiện kiểm soát trực tiếp cả giai đoạn duy trì).

+ Giai đoạn tấn công kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc dùng hàng ngày, E có thể thay thế cho S.

+ Giai đoạn duy trì kéo dài 6 tháng gồm 2 loại thuốc là H và E dùng hàng ngày hoặc 4 tháng gồm 2 loại thuốc R và H dùng hàng ngày.

Chỉ định: Cho các trường hợp người bệnh lao mới (chưa điều trị lao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng).

Phác đồ II: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3

+ Giai đoạn tấn công kéo dài 3 tháng, 2 tháng đầu tiên với cả 5 loại thuốc chống lao thiết yếu (SHRZE) dùng hàng ngày, 1 tháng tiếp theo với 4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày. Giai đoạn duy trì kéo dài 5 tháng với 3 loại thuốc H, R và E dùng 3 lần một tuần.

Chỉ định: Cho các trường hợp người bệnh lao tái phát, thất bại phác đồ bậc 1, điều trị lại sau bỏ trị, một số thể lao nặng và phân loại khác (phần phân loại theo tiền sử điều trị).

 

 

Điều trị Lao sớm ở bệnh nhân HIV
Điều trị Lao sớm ở bệnh nhân HIV

6.Điều trị dự phòng mắc lao bằng isoniazid (INH) ở người lớn nhiễm HIV

6.1. Chỉ định

Người lớn và trẻ vị thành niên nhiễm HIV và loại trừ mắc lao tiến triển; không phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch kể cả phụ nữ mang thai, người bệnh đang điều trị ARV và người bệnh đã từng được điều trị lao trước đây.

6.2. Chống chỉ định

a) Chống chỉ định tuyệt đối

Người bệnh có tiền sử dị ứng với INH.

b) Chống chỉ định tương đối

– Viêm gan tiến triển, xơ gan, nghiện rượu nặng: người bệnh có các triệu chứng lâm sàng của viêm gan. Trì hoãn việc điều trị dự phòng bệnh lao bằng INH cho các trường hợp có viêm gan tiến triển cho đến khi men gan trở về bình thường hoặc < 5 lần giới hạn bình thường

– Rối loạn thần kinh ngoại biên.

– Liều lượng INH: Người lớn: 1 viên 300mg/ngày, uống 1 lần/ngày vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn, tốt nhất là uống lúc đói.

– Thời gian điều trị cho người lớn: 9 tháng

Nếu có các dấu hiệu bất thường ở bệnh nhân đang điều trị HIV, cần đi gặp bác sĩ ngay để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Mọi thắc mắc về vấn đề HIV, bạn hãy gọi đến tổng đài 19006237 để được tư vấn HIVtư vấn xét nghiệm HIV rõ nhất từ các chuyên gia.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here